Tin tức

Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực khu công nghiệp

Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực khu công nghiệp
Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực khu công nghiệp
 
 Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực khu công nghiệp
 
I. Thực trạng
   1. Khu công nghiệp và nhu cầu nhân lực
 Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước và từ thực tiễn phát triển của Việt Nam cho thấy, tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung tại các KCN đã thật sự mang lại nhiều hiệu quả to lớn không chỉ riêng cho sự phát triển của ngành công nghiệp, mà còn đổi mới cả nền kinh tế ở một quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển. Thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển của các KCN.
 Ở Việt Nam số lượng KCN trên cả nước được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã tăng rất nhanh từ 1 KCN (năm 1991) lên đến 304 KCN (tính đến tháng 9/2015), trong đó có 206 KCN đã đi vào hoạt động. Đến nay cả nước có 60/63 tỉnh, thành phố có KCN được thành lập.
 Các KCN chủ yếu được thành lập ở ba vùng kinh tế trọng điểm (vùng kinh tế trọng điểm phía bắc; vùng kinh tế trọng điểm phía nam; vùng kinh tế trọng điểm miền trung), Vùng Đông Nam Bộ có số lượng KCN được thành lập nhiều nhất với 104 KCN (chiếm 34,3% cả nước), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng với 79 KCN (chiếm 26,1% cả nước) và vùng Tây Nam Bộ với 51 KCN (chiếm 17,1% cả nước). Các KCN đã thu hút được 8.500 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn đăng ký khoảng 70 tỉ USD, trong đó vốn đầu tư nước ngoài hơn 52 tỉ (chiếm 30% FDI cả nước), còn lại là vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước. Nếu tính về giá trị sản xuất công nghiệp, các KCN hiện nay đã đóng góp hơn 30% giá trị công nghiệp của cả nước. Ngoài ra, các KCN phát triển đã kéo theo sự đầu tư về cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước...). Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của KCN góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ðó là thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu; thu hút vốn đầu tư; nộp ngân sách Nhà nước; tạo công ăn việc làm cho người lao động; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng trình độ công nghệ sản xuất; tạo sản phẩm có sức cạnh tranh, v.v.
 Cùng với các KCN các KKT đã được hình thành, đến nay đã có trên 14 KKT  với 320 dự án FDI đầu tư với số vốn đăng ký là 40 tỷ USD và 890 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 560 ngàn tỷ đồng. Chỉ tính riêng các KKT ven biển trên cả nước đã thu hút được 165 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 37,3 tỷ USD; thu hút đầu tư trong nước đạt 510.000 tỷ đồng.
 Các KCN, KKT đã thu hút 2,6 triệu người làm việc, trong đó lao động trong các KCN là hơn 1,5 triệu lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp. Tuy nhiên, có một thực tế, trong các dự án đầu tư vào các KCN, KKT, chưa có “quy hoạch” lao động, đại bộ phận lao động đang làm việc trong KCN, KTT (80%) là lao động nhập cư, không có kỹ năng nghề nghiệp. Vì vậy, chất lượng lao động trong các KCN,KKT còn hạn chế, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả kinh tế.
   2. Thực trạng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu các KCN
  Nhận thức rõ hạn chế của nhân lực trực tiếp trong các KCN, ngành dạy nghề đã khắc phục những khó khăn, tìm kiếm giải pháp từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là đào tạo nghề chất lượng cao để đáp ứng  nhu cầu lao động của các KCN cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo.
   a) Những kết quả đã đạt được
 Về các văn bản quy phạm pháp luật
 Nhằm tập trung đào tạo nhân lực có tay nghề cao phục vụ cho các KCN, các vùng kinh tế trọng điểm, trong thời gian qua Bộ đã tham mưu trình, ban hành:
 + Chỉ thị số 37 - CT/TW ngày 06/6/2014 của Ban Bí thư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao";
 + Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/05/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020;
 + Quyết định số 371/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 phê duyệt Đề án Chuyển giao các bộ chương trình; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; đào tạo thí điểm các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN, quốc tế;
 + Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014  của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020;
 + Phê duyệt nghề trọng điểm cấp độ quốc tế, khu vực, quốc gia và các trường được lựa chọn nghề trọng điểm để tập trung đầu tư.
 Về mạng lưới:
 Tính đến hết năm 2015 cả nước có 1.467 CSDN, gồm 190 trường CĐN, 280 trường TCN, 997 TTDN và hơn 1000 cơ sở khác có tham gia dạy nghề, tăng 3,5% so với năm 2010. Đã có 45 trường công lập được lựa chọn để ưu tiên, tập trung đầu tư thành trường chất lượng cao vào năm 2020, đồng thời Bộ đã phê duyệt quy hoạch 26 nghề cấp độ quốc tế, 34 nghề cấp độ ASEAN và hơn 130 nghề cấp độ QG.
 Trong số các CSDN có 285 CSDN thuộc doanh nghiệp trong đó có 28 CSDN thuộc DN nhà nước (chiếm tỷ lệ 9,82%), 257 CSDN thuộc DN tư nhân (chiếm tỷ lệ 90,18%). Những CSDN thuộc doanh nghiệp, chủ yếu đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp, bao gồm cả các doanh nghiệp trong các KCN (Ví dụ như: CĐN Việt Nam – Singapore (Khu Công nghiệp Việt Nam-Singapore, Bình Dương), CĐN Kỹ thuật Công nghệ Dung Quất (Khu Kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi), CĐN Chu Lai-Trường Hải (Khu Phức hợp sản xuất và lắp ráp ô tô Chu Lai - Trường Hải, Quảng Nam),… )
   - Về tuyển sinh
 Cùng với sự phát triển các CSDN, số lượng tuyển sinh học nghề cũng không ngừng tăng lên. Kết quả tuyển sinh học nghề trong 5 năm (2011 - 2015) được 9.171.371 người, trong đó CĐN và TCN  chiếm 12,2 %; sơ cấp nghề  và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm 87,8 %. Năm 2015, tuyển sinh đạt được 1.979.199 người, trong đó CĐN, TCN chiếm 10,6 %. Tỷ lệ này giảm 4,7 % so với năm 2014. Mặc dù kết quả tuyển sinh trong giai đoạn 2011 - 2015 chưa đạt mục tiêu Chiến lược phát triển dạy nghề đề ra, song kết quả tuyển sinh của giai đoạn này tăng 18% so với giai đoạn 2006 - 2010 (tăng 7.773.887 người).
nothing